| N’Trang Lơng – Niềm tự hào lớn của người M’nông |
Người M’nông rất tự hào về N’Trang Lơng, người anh hùng của dân tộc mình trong quá trình lịch sử đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược hồi nửa đầu thế kỷ XX.N’Trang Lơng tức là ông Lơng là cha của cô H’Trang (tên của người con gái đầu). Đây cũng là tập tục gọi tên người cha trong quan hệ với người con đầu lòng của các dân tộc bản địa Tây Nguyên. Ngoài ra, do nhiều cách đọc khác nhau mà tên ông còn có những cách đọc, cách viết, cách phiên âm khác như: Bơ Trang Lơng, Ama Trang Lơng, Băp Trang Lơng, Bă Trang Lơng, Ba Trang Lơng, Bu Trang Lung, Bu Trang Luông… Đến nay, năm sinh của ông chưa khẳng định mà chỉ ước đoán khoảng năm 1870. Về thành phần dân tộc, ông là người Biêt chính gốc, sinh ra ở làng Bu Par (Bu Pơr), một làng Biêt nằm giữa vùng Biêt, dưới chân núi Nâm D’rôn, gần suối nước Dăk Dur chảy xuống sông Prêktê, thuộc tỉnh Krochê (cũ), nước Campuchia, gần con đường từ Krochê đi Ban Mê Thuột, cách Bu Xra khoảng 2 ngày đường đi bộ về phía Tây bắc. Ông có hai đời vợ. Riêng đời vợ đầu là bà H’Bal có 4 người con, người đầu là gái tên H’Trang, tất cả đều bị bọn lính của Met (tên đồn trưởng Bu Xra) hãm hiếp giết chết (1912). Đời vợ sau của ông là bà H’Pang ở Bu Rơlâm (nay thuộc tỉnh Đắk Nông), nhưng không có con và trở thành người bạn chiến đấu của ông. Đến khi ông ngã xuống trước họng súng của quân thù ở làng Bu Par, bà đã ngã theo, hy sinh bên cạnh chồng. N’Trang Lơng mất sáng 23-5-1935 tại Bu Par trong trận bị Pháp bao vây đánh bất ngờ, do một tên phản bội chỉ điểm dẫn Pháp đến bắt và giết ông. Ông mất khoảng 65 tuổi. Ông là người M’nông lãnh đạo kiên cường, tiêu biểu nhất trong suốt 25 năm (1911-1936) chống thực dân Pháp của nhân dân M’nông và Xtiêng hai nước Việt Nam và Campuchia đã làm nên những chiến công oanh liệt, tiêu diệt hàng trăm tên địch, trong đó có những tên thực dân sừng sỏ như Met, Truphô, Gati, More… thu của chúng hàng ngàn súng ống, đạn dược và nhiều phương tiện chiến tranh khác, buộc chúng phải rút khỏi cao nguyên M’nông và giải phóng được cao nguyên M’nông, quê hương của dân tộc ông trong thời gian dài. Đồng thời, các chiến công đó đã động viên, cổ vũ các phong trào chống Pháp khác trên toàn miền Sơn nguyên Nam Đông Dương, gây cho Pháp rất nhiều khó khăn và tổn thất trên bước đường chinh phục vùng núi cao nguyên này. Tinh thần chiến đấu ngoan cường, anh dũng của N’Trang Lơng và nghĩa quân là xuất phát từ lòng thiết tha yêu bon rẫy, yêu cuộc sống độc lập tự do, yêu dân tộc của mình từ ngàn xưa ông bà để lại. Tình cảm ấy một khi bị đụng chạm tới chính sách bạo tàn của thực dân thì được nhân lên thành sức mạnh gấp bội để chiến thắng quân thù. Ngoài ra, thắng lợi của phong trào N’Trang Lơng còn là tài nghệ chỉ huy chiến đấu của N’Trang Lơng. Ông cùng các thủ lĩnh, bạn chiến đấu của ông đã tìm ra được những hình thức và phương pháp chiến đấu thích hợp, linh hoạt đạt hiệu quả chiến đấu cao, đó là chiến thuật đánh du kích. Có thể nói, không có tài nghệ đánh du kích của N’Trang Lơng thì không có các chiến thắng oanh liệt vang lừng và cũng không có phong trào chống Pháp bền bỉ, liên tục, lâu dài của dân tộc M’nông mà ngày nay chúng ta gọi là phong trào N’Trang Lơng. N’Trang Lơng rất xứng đáng với danh hiệu anh hùng dân tộc mà ông được phong tặng trong lễ kỷ niệm 50 năm chiến thắng Bu Nơr – Bu Mêra được Nhà nước tổ chức tại Hà Nội ngày 1-12-1964. Cho đến nay, gần 70 năm đã trôi qua kể từ khi phong trào N’Trang Lơng kết thúc, ý nghĩa của nó không những tiếp tục phát huy mạnh mẽ trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược mà sau năm 1975, ngọn lửa truyền thống N’Trang Lơng ấy cũng tiếp tục rực cháy trong sự nghiệp xây dựng đất nước và cuộc đấu tranh chống bọn phản động nước ngoài để bảo vệ an ninh trên quê hương các dân tộc Tây Nguyên. Nguồn:( VHTT&DL Đắk Nông) Tin mới hơn:
|







Người M’nông rất tự hào về N’Trang Lơng, người anh hùng của dân tộc mình trong quá trình lịch sử đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược hồi nửa đầu thế kỷ XX.