Đường lên Thiên Thai

thienthaiĐồng nghiệp Nguyễn Minh Sơn của văn phòng báo Pháp Luật TP.HCM tại Đà Nẵng gọi điện hỏi thăm tối hôm qua, 3.3.2006, lúc đoàn vừa về tới Đông Hà. Được nghe kể về đoạn đường đẹp như mơ mà chúng tôi vừa trải qua, Sơn nói, chặng sắp tới sẽ còn “ác liệt” hơn, và anh chỉ thêm mấy nơi cần dừng ghé trên đường trong địa phận tỉnh Quảng Nam.

Nhưng hôm nay, 4.3.2006, trước khi rời Đông Hà theo đường Chín lên Đa Krong để tiếp tục cung đường Trường Sơn, chúng tôi ghé qua thành cổ Quảng Trị như kế hoạch đã dự tính trước khi rời Hà Nội.

Thành cổ Quảng Trị được mệnh danh là cái "cối xay thịt" vào năm 1972, khi quân Giải phóng chiếm giữ nơi đây trong 82 ngày đêm. Nhưng bây giờ, nó chỉ là một khu vườn lớn yên tĩnh, mỗi bề rộng đúng 1.000 mét, nằm về phía Đông của thị xã Quảng Trị, cái thị xã có lẽ nhỏ bé nhất nước ta với dân số chưa tới 1,2 vạn người, cách thị xã tỉnh lỵ Đông Hà chỉ 13 km. Ngoài những công trình như nhà bảo tàng, đài tưởng niệm…; dấu vết chiến tranh còn để lại duy nhất ở đây chỉ là một đoạn tường gạch có cái cổng sau với hai cánh cổng rỉ sét lỗ chỗ dấu đạn như cái mê rổ.

Lủng lẳng ba máy ảnh, nhưng rất ít thấy Nguyễn Duy bấm máy. Trong từng bước chậm rãi, anh thỏ thẻ về những đồng đội của mình ở cổ thành này. Cái năm 1972 ấy, Nguyễn Duy là lính của Bộ tư lệnh thông tin ở mặt trận này. Nhưng anh vào đây đúng có 3 ngày trước 28.6, là ngày quân đội Sài Gòn mở chiến dịch tái chiếm. Đến 16.9 là ngày quân Giải phóng rút khỏi thành. Nói là rút khỏi, nhưng theo Nguyễn Duy, những đồng đội cuối cùng của anh ở đây không ai rút ra, tất cả đều chôn vùi trong đống gạch vụn. Có bao chiến sĩ đã hy sinh ở đây? Con số này vẫn chưa được cho biết. Nhưng theo anh Hoàng Tấn Trung, một cán bộ của Sở Kế hoạch - đầu tư Quảng Trị, một độc giả thuộc gần hết những bài thơ mà Nguyễn Duy đã viết, thì con số hơn ngàn hài cốt ở đây được qui tập về nghĩa trang đường Chín là chỉ chừng một phần mười số người đã hy sinh. Anh Trung còn cho biết, khu vực chung quanh cổ thành, có nhà dân khi đào móng để xây lại, đã tìm thấy đến 5 hài cốt. Và hầu như nhà nào khi đào lên cũng gặp hài cốt.

Khi ngồi uống cà phê ở quán Sông Xanh bên bờ sông Thạch Hãn, Lê Đức Dục chỉ vào toà nhà đối diện mà trước kia là dinh tỉnh trưởng, kể rằng, có mùa bão, một cây xà cừ trong vườn này bật gốc, thì thấy dưới gốc cây là hài cốt của một nữ chiến sĩ, còn cả khẩu súng AK.

Nguyễn Duy nhìn cây cầu sắt bắc qua sông Thạch Hãn, trầm ngâm kể lại, khi rút ra, anh đã dừng lại trên cầu này vì cái màu đỏ rực như cờ dọc hai bờ sông. Đó là màu ớt chín không có người thu hái. Trong những ngày trụ lại ở thôn Nhang Biều bên kia cầu Lai Phước, Triệu Phong, trên đường dây thông tin quân sự mặt trận, anh đã may mắn gọi được về cho báo Văn Nghệ ở Hà Nội và đã đọc đến 6 bài thơ vừa làm để ngoài ấy chép lại. Người tiếp nghe ở đầu dây Hà Nội là nhà phê bình Hoài Thanh, chủ nhiệm của báo, và hai người trực tiếp chép thơ anh là biên tập viên Phạm Hổ và Hữu Nhuận. Ba ngày sau, khi nằm trong hầm ở Cùa, qua máy thu thanh, anh được nghe giới thiệu chùm thơ này đã được in báo. Một số bài trong chùm thơ sau đó đã được giải thưởng. Và chính giải thưởng này đã biến anh lính thông tin Nguyễn Duy Nhuệ thành nhà thơ Nguyễn Duy.

Rời thành cổ, chúng tôi còn dừng lại nghĩa trang đường Chín để thắp nén nhang chung cho 7.993 liệt sĩ đang yên nghỉ nơi đây; mà hơn một nửa trong số này còn chưa biết được tên tuổi.

Trở lại điệp khúc “ối giời ôi!”

Chúng tôi rời đường Chín để bắt tiếp đường Hồ Chí Minh tại cầu Dakrong, trên độ cao 500m. Đường Chín từ đây ngược tiếp lên sẽ gặp Khe Sanh và cuối cùng là cửa khẩu Lao Bảo sang Lào.

Con sông Ba Lòng từ thượng nguồn đổ về đến Dakrong thì rẽ một nhánh chạy dọc theo đường Hồ Chí Minh. Sau khi dừng bên chân cầu cho cả đoàn quay phim, chụp ảnh, tài xế Nguyễn Duy tuyên bố bắt đầu từ đây cho đến A Lưới, 91km, sẽ không dừng lại bất cứ đâu, ai muốn quay, muốn chụp thì thò ống kính ra cửa xe. Nhưng chỉ hơn mười phút thì xe đột ngột thắng gấp trước một bản nhà sàn mái tranh của đồng bào Vân Kiều chênh vênh trên sườn núi. Nguyễn Duy vừa “ối giời ôi” vừa bấm máy lia lịa. Bị cười vì tự vi phạm qui định, Nguyễn Duy ứng khẩu: “ Ối giời ôi cảnh cheo leo/ Bỗng nhiên có một con đèo thò ra ”. Con đường từ đây lượn quanh núi, luồn trong mây, xuyên qua rừng già đẹp một cách não nùng. Có đến hơn chục lần xe thắng gấp, nhưng tài xế Nguyễn Duy vẫn kiên quyết không cho ai được mở cửa xe. Anh kể, năm 1973 anh đã từng qua cung đường này cùng với đoàn văn công của Bộ tư lệnh thông tin. Dừng lại ở đơn vị nào để phục vụ, các cô văn công cũng được cánh lính nhà ta săn sóc đặc biệt, nhất là nơi tắm được làm riêng, che chắn kín đáo. Nhưng ở một đơn vị, sau khi làm nhà tắm cho nữ văn công, mấy anh lính trẻ còn chịu khó lên ngọn cây cao gần đó làm một cái chòi để thay nhau…

Nhưng phải sau thung lũng A Lưới, từ sau hai hầm chui Roòng ngược lên, mới thật sự là con đường lên Thiên Thai. Một con đường lên Thiên Thai hùng vĩ khác thường. Gần như toàn bộ đoạn đường 101 km này là một con đèo vĩ đại cứ ngược hoài lên trên cả mây. Cái qui định không mở cửa xe đã có 6 lần bị vi phạm, mặc dù chính Nguyễn Duy đã răn đe là có thể phải ngủ lại trên đỉnh Trường Sơn. Đã rút kinh nghiệm của ngày hôm qua, nhưng trước lần xuất hiện cuối cùng của mặt trời chiều trên đầu núi, thì 4 trong số 6 người, máy đã hết pin.

Đêm, đoàn ngủ lại trên phố núi Đông Giang, Quảng Nam, thủ phủ của huyện Hiên cũ. Bữa cơm tối muộn trong một quán ăn vệ đường lại có món cá suối chiên rất ngon, tên là cá liêng. Nó từa tựa con cá linh của mùa lũ Cửu Long, nhưng vây màu đỏ và dài hơn, thịt thơm hơn. Đặc biệt là có thể ăn nguyên xương vì nó rất mềm.

Nguồn:SGTT.com


Tin cũ hơn: