|
Bạn đã từng mơ làm một chuyến thám hiểm giữa rừng sâu, hay làm một nhà khảo cổ học trên hoang mạc, hoặc nghiên cứu đời sống hoang dã ở thảo nguyên? Hãy thử tham gia một trong những chương trình của Earthwatch (*), bạn sẽ có cơ hội trải nghiệm những giấc mơ này, đồng thời góp phần tài trợ các hoạt động nghiên cứu khoa học.
Tôi tham gia nhóm các nhà nghiên cứu thú ăn thịt nhỏ trên đồng cỏ Argentina,
cách thành phố gần nhất Bahia Blanca khoảng 100km. Khu vực chúng tôi nghiên cứu là rặng núi duy nhất trong cả vùng thảo nguyên này. Những chú ngựa hoang cao lớn và xinh đẹp là cộng đồng cư dân đông đúc nhất trong vùng. Trên đồng hoang rất dễ bắt gặp những đống xương trắng của những chú ngựa xấu số không sống nổi qua mấy trận bão thảo nguyên.
Nhưng nếu không có những trận bão ấy để giảm bớt dân số ngựa, thì cỏ trong vùng sẽ không thể mọc dày, các loài gặm nhấm như thỏ, nhím... sẽ thiếu môi trường thuận lợi để sinh sống, và các loài thú ăn thịt mà chúng tôi nghiên cứu (cáo, chồn và mèo rừng) sẽ giảm số lượng vì thiếu thức ăn. Còn nếu thiếu những chú chồn, cáo và loài ăn thịt khác, thì những xác ngựa kia sẽ làm ô nhiễm thảo nguyên mất. Cái vòng cân bằng sinh thái là như thế.
Chúng tôi chọn một vạt rừng thưa để dựng lều. Những cây thông hai lá vây khắp ba bên phần nào chắn giúp chúng tôi những trận gió tơi bời của thảo nguyên. Chúng tôi không dựng lều dưới bóng cây, vì từng tia nắng mặt trời ấm áp là vô cùng quí giá.
Tháng tư là mùa thu ở Argentina, và có lẽ là mùa dễ chịu nhất để thâm nhập đời sống hoang dã, thế nhưng thời tiết ở đồng cỏ Bahia Blanca không hoàn toàn dễ chịu. Mười đêm chúng tôi ngủ ở trại thì đến bốn đêm phải chịu mưa to và gió lạnh. Mặt đất thì không được bằng phẳng như bãi cỏ công viên mà tôi từng cắm trại hồi đi học. Có ngủ lều như thế nhiều ngày, đến khi trở về mới thấy hết giá trị của chiếc giường nệm trắng trong khách sạn, thấy nó là phát minh hết sức giá trị của nhân loại. Và sau khi không được tắm hàng tuần lễ (vì không tắm nổi trong dòng suối lạnh giá), cảm giác khi được tắm trong vòi sen nóng là “trên cả tuyệt vời.” Chúng tôi nghiên cứu bằng cách đặt bẫy (mà không làm bị thương) các loài thú cần nghiên cứu, gây mê cho chúng để làm các đo đạc và ghi chép cần thiết: chiều dài, cân nặng, màu lông, độ tuổi, nhịp tim, tình trạng răng..., thời gian và địa điểm bẫy được chúng, thời tiết lúc đó (nhiệt độ, sức gió, mùa và trăng...), loại bẫy và loại mồi phù hợp... rồi đeo cho chúng một vòng cổ có radio phát tín hiệu để theo dõi về sau.
Chúng tôi phải đợi tới khi chúng tỉnh dậy hoàn toàn, đảm bảo đủ khả năng tự vệ, mới thả chúng trở lại thiên nhiên. Bốn lần trong ngày chúng tôi đi thăm bẫy để chắc chắn rằng không có con thú nào phải bị tổn thương (thể chất hay tinh thần) vì phải ở trong bẫy quá lâu. Thăm bẫy mỗi sáu tiếng một lần, có nghĩa mỗi ngày đều có một lần lúc nửa đêm và một lần lúc tờ mờ sáng.
Ngày khác chúng tôi cầm ăngten đi dò tìm xem những con thú đã từng bắt được và đeo vòng cổ nay đang ở đâu, đang hoạt động như thế nào, định vị chúng và vẽ bản đồ phân bố. Với những dữ liệu có được qua nghiên cứu thực địa này, các nhà khoa học sẽ tiếp tục các bước nghiên cứu và phân tích tại trường đại học để cho ra các kết quả như số lượng cá thể từng loài trong khu vực, mật độ, phân bổ, cách chúng chọn nơi làm hang cư trú, thức ăn ưa thích, tập tính hoạt động, săn mồi, ảnh hưởng của thời tiết, khí hậu và các hoạt động của con người đối với hành vi và sự sống của chúng, ảnh hưởng của chúng đối với các loài thú khác trong cùng địa bàn...
Khối lượng vận động cao, mỗi ngày đi bộ không dưới 12km, khối lượng kiến thức học được cũng lớn, thế mà hai tuần ở trại đối với tôi thật sự là thư giãn. Bởi vì ở đó tôi chỉ là khách của các nhà khoa học, được hướng dẫn, chỉ bảo, được chỉ cho xem những điều thú vị, được hỏi và được giải thích cho thỏa chí tò mò, rồi thì chỉ giúp các nhà khoa học trong khả năng của mình chứ không phải cố gắng hoàn thành hay thể hiện điều gì. Gần hai tuần giữa thiên nhiên đủ để tôi hoàn toàn quên cái áp lực ở văn phòng. Thảo nguyên không xanh mượt nhưng lại có những cảnh sắc riêng để hớp hồn người ta. Tôi sẽ không quên những buổi thăm bẫy về lúc hoàng hôn, rặng núi viền một màu tím vàng đầy tâm trạng, thẫm dần và thẫm dần. Rồi trăng lên, vướng trong một dải mây. Mây không liền khối và bị gió thảo nguyên xé rách thành từng vạt mỏng, gây cảm giác là gió xé rách vầng trăng.
Tôi sẽ nhớ mãi chú cáo đầu tiên chúng tôi bắt được, tuy nhỏ và không “đẹp giai” bằng mấy chú khác, nhưng được đặt tên là Maurocio, theo tên vị tiến sĩ trưởng đoàn Mauro, bởi vì nó có hàm răng thật tốt y như của ông ấy vậy. Còn ngày cuối cùng ở trại là một ngày thật dài. 9g sáng nghe bẫy được con cáo thứ sáu và một con mèo nữa.
Chúng tôi chia nhau chạy tới các bẫy và chỉ kịp uống một tách sôcôla nóng thay cho bữa điểm tâm. Một con cáo dũng mãnh và một con mèo rừng thật đẹp. Xong việc với hai chú thì còn phải đi một vòng tháo hết các bẫy còn lại để hôm sau chúng tôi về sẽ không còn chú nào mắc bẫy nữa. Di chuyển thật nhiều và làm cật lực, mãi đến 5g chiều mới về đến trại chúng tôi mới có miếng bỏ bụng đầu tiên trong ngày, còn bữa ăn đàng hoàng thì phải đến 10g tối.
Nguồn:TTO
|