|
Khu di tích Lam Kinh thuộc xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, cách thành phố Thanh Hóa chừng 50km về hướng Bắc. Đó là quê hương của vị anh hùng dân tộc Lê Lợi và nhiều danh tướng của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn như Lê Lai, Lê Thạch, Lê Khôi... Đây cũng là khu di tích có qui mô lớn về các đời vua, hoàng tộc nhà Hậu Lê và nhiều danh tướng đương thời.
Muốn đến Lam Kinh, du khách có thể đi đường bộ hoặc đi thuyền lên sông Mã, sông Chu để có dịp thưởng ngoạn phong cảnh đôi bờ.
Sau khi Lê Lợi lên ngôi hoàng đế lấy hiệu là Lê Thái Tổ, đóng đô ở Đông Kinh (Thăng Long) ông đã cho xây dựng ở quê hương đất tổ Lam Sơn một thành lớn thứ hai thường được gọi là thành Lam Kinh, còn có tên khác là Tây Kinh.
Phía Bắc, thành Lam Kinh dựa vào núi Dầu (Du Sơn); phía Nam nhìn ra sông Chu. Qua sông chừng 1km là núi Chúa (Chủ Sơn) làm tiền án, phía Đông là dãy núi Phú Lâm và núi Ngọc xếp hình cánh cung, phía Tây là núi Hàm Rồng và núi Hướng. Các công trình cung điện xây theo trục Bắc - Nam trên khu đồi gò có hình chữ “Vương”. Thành có chiều dài 314m, ngang 254m, mặt phía Bắc hình cánh cung, có tường dày 1m.
Mặt trước thành khoảng 100m hiện nay còn có dấu vết cổng vào và móng tường kéo sát bờ sông Ngọc. Qua bờ tường chừng 10m là con sông đào mang tên sông Ngọc rộng khoảng 20m. Bắc qua sông là cây cầu Tiên Loan. Qua cầu khoảng 50m là đến giếng cổ hình chữ nhật. Tiếp theo là sân rộng dẫn đến Ngọ Môn. Giữa sân, hai bên lối vào là hai con nghê đá, trên thân trang trí khá cầu kỳ. Di tích còn lại không nhiều nhưng chúng ta có thể nhận ra đây là một công trình rất lớn của vua Lê Thái Tổ.
Sau vụ hỏa hoạn vào đầu thời Mạc, mãi đến thời Lê trung hưng, Lam Kinh mới được dựng lại. Tuy nhiên, trải qua hai thế kỷ, Lam Kinh cũng đã hoang phế dần. Trên nền điện cũ còn 138 viên đá lớn dùng để kê chân cột, một cây đa cổ thụ có niên đại khoảng 300 năm tỏa bóng sum sê, một giếng cổ và 2 con rồng đá trước thềm.
Mặc dù chỉ còn là phế tích nhưng Lam Kinh ngày nay vẫn tạo cho du khách cảm nhận sự trường tồn một công trình kiến trúc hoành tráng, độc đáo nơi đây với những tác phẩm điêu khắc đá tinh xảo rải rác các cung điện như thành nội, thành ngoại, sân rồng.
Đặc biệt là khu mộ cùng những tấm bia ghi lại công trạng của các đời vua và hoàng tộc triều Lê, trong đó bia Vĩnh Lăng dựng vào năm 1433 nổi bật với chiều cao 2,97m, rộng 1,94m, dày 0,27m. Đây được xem như tấm bia to lớn nhất ở nước ta. Nội dung bia Vĩnh Lăng do danh nhân văn hóa, anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi soạn. Mộ vua Lê Thái Tổ được an táng ở Vĩnh Lăng, xây đơn giản bằng gạch, hai bên đường dẫn đến mộ có hai dãy tượng ngựa, hổ, tê giác, quan hầu... bằng đá đứng chắn.
Cách mộ vua Lê Thái Tổ chừng 5 - 6m là khu bia mộ của vua Lê Thái Tông gọi là Hựu Lăng, bia mộ của bà Quang Thục hoàng thái hậu, mẹ vua Lê Thánh Tông, bia mộ của vua Lê Thánh Tông gọi là Chiêu Lăng, bia mộ của vua Lê Hiến Tông gọi là Dụ Lăng. Còn bia mộ của các vua khác nay đã thất tán.
Năm 1964, khu di tích Lam Kinh được Nhà nước xếp hạng di tích quốc gia cần được trùng tu và bảo tồn. Trong 10 năm qua, các nhà khoa học đã tiến hành 7 đợt khai quật trên diện tích 3.000m2, thu hơn 2.000 hiện vật.
Hàng năm cứ đến ngày 21 - 22 tháng 8 âm lịch, nhân dân khắp nơi nô nức kéo về điện Lam Kinh để dự lễ tưởng niệm Bình Định Vương Lê Lợi và các danh tướng nhà Lê đã có công giành độc lập, xây dựng đất nước phồn vinh. Nghi lễ rước kiệu từ lăng về đền thờ rất trang trọng. Sau lễ dâng hương tưởng niệm, khách trẩy hội có dịp tham quan quần thể di tích Lam Kinh, được xem các điệu múa, trò chơi truyền thống như múa Xuân Phả, trò Bình Ngô phá trận. Du khách còn được dịp thưởng thức một số đặc sản địa phương như bưởi, mía, đường sông Lam và bánh gai Tứ Trụ vốn nổi tiếng xưa nay.
Theo Sai Gòn new |